Trang chủ Lớp 10 Ngữ văn lớp 10 Soạn: Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng...

Soạn: Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng trang 143 Ngữ văn 10, Bài thơ được viết theo cấu trúc đặc trưng của thơ tứ...

Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng (Lý Bạch) – Soạn: Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng trang 143 SGK Ngữ văn 10. Bài thơ được viết theo cấu trúc đặc trưng của thơ tứ tuyệt Đường luật: bốn câu, mỗi câu giữ một vị trí quan trọng. Ngôn ngữ thơ trong sáng, hình ảnh giản dị, giàu sức gợi cảm. Đặc biệt mang đậm đặc trưng của thơ tứ tuyệt Đường luật là “ý tại ngôn ngoại” (ý nằm ngoài lời).

KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Tác giả

a. Lý Bạch sinh 701 và mất 762 (thọ 61 tuổi). Quê ở Lũng Tây nay thuộc tỉnh Cam Túc. Ông là nhà thơ lãng mạn vĩ đại của Trung Quốc. Thơ Lý Bạch hào phóng. Ông còn để lại trên 1000 bài thơ. Ngưòi ta gọi ông là Tiên thơ (Tiên thi).

b. Nội dung thơ Lý Bạch rất phong phú với chủ đề chính là:

– Ước mơ vươn tới lí tưởng cao cả.

– Khát vọng giải phóng cá nhân.

-Bất bình với hiện thực tầm thường.

– Thể hiện tình cảm phong phú, mãnh liệt.

c. Phong cách thơ Lý Bạch rất hào phóng, bay bổng nhưng rất tự nhiên, tinh tế, giản dị, thơ Lý Bạch kết hợp giữa cái cao cả và cái đẹp.

2. Bài thơ

– Mạnh Hạo Nhiên (689 – 740) là một nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc đời Đường – Là ngưòi bạn văn chương rất thân thiết của Lý Bạch.

– Bài thơ miêu tả không gian, thời gian và địa điểm đưa tiễn bạn đồng thời thể hiện tình cảm chân thành, trong sáng, cảm động, sâu sắc của thơ dành cho bạn của mình.

– Bài thơ được viết theo cấu trúc đặc trưng của thơ tứ tuyệt Đường luật: bốn câu, mỗi câu giữ một vị trí quan trọng. Ngôn ngữ thơ trong sáng, hình ảnh giản dị, giàu sức gợi cảm. Đặc biệt mang đậm đặc trưng của thơ tứ tuyệt Đường luật là “ý tại ngôn ngoại” (ý nằm ngoài lời).

 HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI

Câu 1. Xác lập mối quan hệ giữa không gian, thời gian và con người trong bài thơ. Mối quan hê ấy có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện khung cảnh và tâm tình người đưa tiễn.

– Không gian: Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ chọn phía tây lầu Hoàng Hạc để tiễn bạn. Theo quan niệm người Á Đông phía tây là cõi Phật, cõi tiên. Đặc biệt là Trung Quốc, ở phía Tây là vùng đất hoang sơ, nhiều núi cao, bí hiểm. Ngày xưa chỉ dành riêng cho ẩn sĩ đến tu hành. Nơi ẩn chứa những tâm hồn thanh cao trong sạch. Theo huyền thoại, lầu Hoàng Hạc là nơi Phí Văn Vi tu luyện thành tiên rồi cưỡi hạc vàng- bay đi:

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ

Hạc vàng đi mất từ xưa

Quảng cáo

Ngàn năm mây trắng bảy giờ còn bay

Đến một nơi thoát tục để đưa tiễn một người bạn tri âm trở về cuộc đời trần tục. Dương Châu là nơi phồn hoa, đô hội, nơi buôn bán sầm uất. Sông Trường Giang trở thành điểm nổi bật giữa hai không gian: nơi đi – nơi đến, đồng thời cũng là dòng sông – tâm tư nối liền hai người: kẻ ở – người đi. Buổi tiễn đưa vì thế trở nên vô cùng sâu sắc.

– Thời gian: Một khung cảnh thật đẹp, lãng mạn. Một chiếe thuyền đang rẽ sóng, lưót trên những làn hoa khói. Hình ảnh ấy gợi lên không khí mơ hồ lãng đãng của thơ Đường. Từ “hoa” còn chỉ thời gian, tháng ba có tiết xuân. Hơn nữa Mạnh Hạo Nhiên xuôi dòng đến Dương Châu nơi phồn hoa đô hội. Một từ mà nói đến được nhiều đến thế. Mới thấy cái hay của thơ Đưòng ở “ý tại ngôn ngoại”.

– Con người: Hai tiếng “Cố nhân” ở đầu câu dịch là bạn, đúng mà chưa hết nghĩa. Bởi lẽ “cố nhân” là người bạn gắn bó, thân thiết từ xưa, cho dù thời gian có thể điểm tô trên mái tóc. Buổi chia tay nhờ có hai tiếng “cố nhân” ấy mà đắm chìm trong sự thiết tha quyến luyến. Lại nữa, Lý Bạch không sử dụng cách viết thường tình. Phút biệt li không có những li rượu tiễn nhau, không dòng nước mắt, không lời nói tạ từ. Chỉ có lầu Hạch, chỉ có dòng sông với bầu trời, cảnh buồn nhưng nó đã thể hiện tình cảm sâu sắc của nhà thơ với bạn. Vì thế, có thể thấy cuộc chia tay giữa Lý Bạch với “cố nhân” chính là cuộc chia tay với chôn đi về của lòng mình.

Mối quan hệ giữa không gian – thời gian – con ngưòi trong bài thơ có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện sự đồng nhất giữa con ngưòi và cảnh vật. Lý Bạch tiễn ngưòi bạn tri kỉ của mình từ nơi thanh cao, thoát tục đến chôn phồn hoa đô hội, gửi gắm trong đó còn là sự lo lắng, ngậm ngùi cho sự đơn lẻ của lòng mình.

Câu 2. Sông Trường Giang là huyết mach giao thông chính của miền Nam Trung Quốc. Mùa xuân trên dòng sông chắc chắn phải tấp nâp, nhiều thuyền bè xuôi ngươc, vì sao Lý Bạch chỉ thấy “cánh buồn lẻ loi” của “cố nhân”?

Hình ảnh cánh buồm lẻ loi ấy không còn là hình ảnh thực mà đã trở thành hình ảnh được tâm lí hoá. Tác giả đã nhìn hình ảnh cánh buồm bằng sự cô đơn của lòng mình cũng như của chính Mạnh Hạo Nhiên. Đây là hình ảnh đồng điệu.

Câu 3. Cảm nhận tâm tình của thi nhân?

– Tâm tình của thi nhân đặc biệt thể hiện rõ trong câu thơ cuối:

Trông xa chỉ thấy dòng sông bên trời

Câu thơ chỉ gợi mà không tả: Trước mặt nhà thơ, trong ánh mắt nhà thơ con sông như cao dần lên hoà nhập vào với tròi xanh, cảnh vật hiện ra trước mắt nhà thơ theo dòng tâm trạng.

Bạn đã đi xa, cánh buồm chỉ còn là “nền ảnh” thấp thoáng như hư, như thực. Tiếp theo đó là một dòng sông chảy vào cõi trời – một khoảng không xanh biếc, rợn ngợp. Tất cả những hình ảnh ấy đều góp phần diễn tả cái nhìn dõi trông, sự dùng dằng, lưu luyến của kẻ ở – người đi. Tâm trạng của tác giả – người ở lại trở nên bàng hoàng, hẫng hụt.

– Bài thơ đã thể hiện tình cảm sâu sắc, chân thành của hai nhà thơ thòi thịnh Đường. Qua bài thơ ngưòi đọc biết quý hơn tình cảm bạn bè – một tình cảm luôn tồn tại trong mọi thời đại.

LUYỆN TẬP

Câu 1. Những hình ảnh, từ ngữ thể hiện vẻ đẹp “ý tại ngôn ngoại’’ của bài thơ.

– Thuyền [đưa bạn] xuôi về Dương Châu, giữa tháng ba mùa hoa khói.

– Bóng cánh buồm xa lẻ loi mất hút vào khoảng không xanh biếc.  Các hình ảnh trên đều hết sức có hồn, như hình ảnh trong câu thơ cuối mới thật sự là “có thần’.

– “Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu’ (Chỉ thấy sông Trường Giang chảy vào cõi trời)

Câu 2. Vẻ đẹp của tình bạn

Luôn được thể hiện thành công trong thơ Đường mà bài thơ này có tính chất tiêu biểu. Trong cuộc sông hôm nay, tình bạn vẫn có ý nghĩa quan trọng, động viên con ngưòi vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Bài thơ có ý nghĩa giáo dục trong mọi thời đại.

Câu 3. Học thuộc lòng bài thơ (dịch) hiểu rõ phần phiên âm, đọc diễn cảm bài thơ (HS tự thực hiện).

Quảng cáo