Trang chủ Lớp 8 Ngữ văn lớp 8 Luyện tập Câu cầu khiến trang 31 SGK Văn 8, 4. Dế...

Luyện tập Câu cầu khiến trang 31 SGK Văn 8, 4. Dế Choắt muốn Dè Mòn đào giúp một cái ngạch từ “nhà” minh sang “nhà” của Dế Mèn (có...

Câu cầu khiến – Luyện tập Câu cầu khiến trang 31 SGK Văn 8. 4. Dế Choắt muốn Dè Mòn đào giúp một cái ngạch từ “nhà” minh sang “nhà” của Dế Mèn (có mục đích cầu khiến).

1. a. Đặc điểm hình thức cho biết nhừng câu trên là câu cầu khiến: có từ cầu khiến (hãy, đi, đừng)

b.  Chủ ngừ trong 3 câu đều có chỉ người đối thoại (hay người tiếp nhận) nhưng có đặc điểm khác nhau:

Trong a: vắng chủ ngữ. Chủ ngữ đó chắc chắn chỉ người đối thoại, nhưng phải dựa vào ngừ cảnh của những câu trước đó người đọc mới biết cụ thể người đối thoại đó là ai: Lang Liêu.

Trong b: chủ ngừ là ông giáo, ngôi thứ hai số ít.

Trong c: chủ ngữ là chúng ta, ngôi thứ nhất số nhiều (dạng ngôi gộp: có người đối thoại).

Có thế thay đối hình thức chú ngừ của các câu trên.

Chẳng hạn: Hãy lấy gạo làm bánh mà lễ Tiễn vương/ Con hãy lấy gạo làm bánh ma lễ Tiên vương (không thay đối ý nghĩa mà chỉ làm cho đối tượng tiếp nhận được thể hiện rõ nơn và lời yêu cầu nhọ hơn, tình cảm hơn).

Ông già hút trước đi/ Hút trước đi (ý nghĩa cầu khiên dường như mạnh hơn, câu nói kém lịch sự hơn).

Nay chúng ta diing làm gì nữa, thứ xem lão Miệng có sống được không! Nay các anh đừng làm gì nữa, thử xem lão Miệng có sống được không (thay đổi ý nghĩa cơ bản của câu, đối với câu thứ hai, trong số những người tiếp nhận lời đề nghị, không có người nói),

2. Có những câu cầu khiến sau:

Quảng cáo

a. Thôi, im cai diệu mưa cỉầm sùi sụt ấy di.

b. Cácc em đừng khóc.

c.   Đưa taV cho tôi mau! Cầm lấy tay tôi này!

Câu a có từ ngừ cầu khiến đi. Vắng chủ ngữ.

Câu b có tư ngừ cáu khiến dừng. Có chú ngừ, ngôi thứ hai sỏ nhiều.

Câu c khỏng cỏ từ ngừ cáu khiến, chỉ có ngữ điệu câu khiến vắng chủ ngữ.

Tình huống được mô ta trong truyện và hình thức vắng chu ngừ trong hai câu cầu khiến này có liên quan với nhau. Trong nhừng tình huống cấp bách, gấp gap đòi hỏi nhừng người có liên quan phái có hành động nhanh và kịp thòi thì câu cầu khiến phái rất ngắn gọn, vì vậy chủ ngữ chỉ người tiếp nhận thường vắng mặt.

3. Câu trong a vắng chú ngữ, còn câu trong b có chú ngừ, ngôi thứ hai số ít. Nhờ có chu ngừ nên câu b ý cầu khiến nhẹ hơn, thè hiện rò hơn tình cám cưa người nói đôi với ngưừi ngho.

4. Dế Choắt muốn Dè Mòn đào giúp một cái ngạch từ “nhà” minh sang “nhà” của Dế Mèn (có mục đích cầu khiến).

Dê Choắt là vai dưới so với Dế Mèn (xưng là em và gọi Dế Mèn là anh) và lại là người yêu đuối, nhút nhát vì vậy ngôn từ cua Dế Choắt thường khiêm nhường, có sự rào trước đón sau (Dế Choắt: Song anh có cho phép nói em mới dám nói. Dế Mèn: Được, chú mày cứ nói thắng thừng ra nào).

Trong lời Dê Choắt yêu cầu Dế Mèn, Tô Hoài không dùng câu cầu khiến (mà dùng câu nghi vấn: có hay là, không thể thay bằng hoặc là) làm cho ý cầu khiên nhẹ hơn, ít rò ràng hơn. Cách (lùng lời cầu khiốn như thế rất phù hợp với tính cách của Dế Choắt và vị thế của Dế Choắt so với Dế Mèn.

5. Câu “Đi đi con!” trong đoạn trích trên và câu “Đi thôi con” ở mục I.1.1) (tr 30) không thay thê cho nhau được. Vì trong ngữ cánh cụ thể câu “Đi đi con!” có chức năng khuyên bảo, động viên còn câu “Đi thôi con” có chức năng yêu cầu.

Quảng cáo