Trang chủ Lớp 9 SBT Ngữ Văn lớp 9 Nghĩa tường minh và hàm ý (tiếp theo) trang 58 SBT Văn...

Nghĩa tường minh và hàm ý (tiếp theo) trang 58 SBT Văn lớp 9 tập 2...

Giải câu 1, 2, 3, 4, 5 trang 58 SBT Ngữ Văn 9 tập 2. Bài tập 2, trang 92, SGK.. Soạn bài Nghĩa tường minh và hàm ý (tiếp theo) SBT Ngữ Văn 9 tập 2 – Soạn bài Nghĩa tường minh và hàm ý (tiếp theo)

1. Bài tập 1, trang 91 – 92, SGK.

   Người nói, người nghe những câu in đậm dưới đây là ai ? Xác định hàm ý của mỗi câu ấy. Theo em, người nghe có hiểu hàm ý của người nói không ? Những chi tiết nào chứng tỏ điều đó ?

   a) – Anh nói nữa đi. Ông giục.

   – Báo cáo hết ! – Người con trai vụt trở lại giọng vui vẻ. Năm phút nữa là mười. Còn hai mươi phút thôi. Bác và cô vào trong nhà. Chè đã ngấm rồi đấy.

   Thì giờ ngắn ngủi còn lại thúc giục cả chính người hoạ sĩ già. Ông theo liền anh thanh niên vào trong nhà, đảo nhìn qua một lượt trước khi ngồi xuống ghế.

(Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa)

   b) – […] Anh Tấn này ! Anh bây giờ sang trọng rồi, còn cần quái gì các thứ đồ gỗ hư hỏng này nữa. Chuyên chở lại lịch kịch lắm. Cho chúng tôi khuân đi thôi. Chúng tôi nhà nghèo dùng được tất.

   – Có gì đâu mà sang trọng ! Chúng tôi cần phải bán các thứ này đi để…

   – Ái chà ! Anh bây giờ làm quan rồi mà bảo là không sang trọng ? Những ba nàng hầu. Mỗi lần đi đâu là ngồi kiệu lớn tám người khiêng, còn bảo là không sang trọng ? Hừ ! Chẳng cái gì dấu nổi chúng tôi đâu !

   Tôi biết không thể nói làm sao được đành ngậm miệng, đứng trầm ngâm.

   – Ôi dào ! Thật là càng giàu có càng không dám rời một đồng xu ! Càng không dám rời đồng xu lại càng giàu có !

(Lỗ Tấn, Cố hương)

   c)

           Thoắt trông nàng đã chào thưa

     “Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây !

Đàn bà dễ có mấy tay,

Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan !

Dễ dàng là thói hồng nhan,

          Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều.”

Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu,

Khấu đầu dưới trướng liệu điều kêu ca.

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

   Bài tập này có các yêu cầu : xác định người nói, người nghe những câu in đậm, xác định hàm ý và tìm những chi tiết chứng tỏ người nghe hiểu hàm ý của người nói. Để làm bài tập này, em cần xem lại những điều kiện sử dụng hàm ý ở phần Ghi nhớ.

   a) Câu in đậm không chỉ thông báo một tin tức hay nêu lên một phán đoán là “Chè đã ngấm rồi.”. Có thể căn cứ vào hành động của ông hoạ sĩ già để biết ông có hiểu hàm ý trong câu nói của anh thanh niên không. Hành động đó được tác giả viết ra như sau : “Ông theo liền anh thanh niên vào trong nhà…”.

   b) Câu in đậm được dùng để trả lời đề nghị của chị “hàng đậu”. Vậy có thể diễn đạt hàm ý này như thế nào ?

   Để biết người nghe có hiểu được hàm ý của anh Tấn không, em có thể dựa vào nội dung hai lời thoại của chị “hàng đậu” sau khi anh Tấn nói.

   c)  Thuý Kiều vừa nói mỉa vừa doạ Hoạn Thư. Em hãy nói rõ nội dung cụ thể của những hàm ý ấy.

   – Muốn hiểu câu nói được in đậm thứ nhất của Kiều, em hãy nghĩ xem khi hai người quen gặp nhau thì người ta thường nói lời gì trước hết.

   – Muốn hiểu câu nói được in đậm thứ hai của Kiều là lời khen hay lời đe doạ, em hãy xem câu tiếp theo tác giả tả tâm trạng của Hoạn Thư như thế nào.

   Muốn biết Hoạn Thư có hiểu hàm ý của Thuý Kiều trong hai câu in đậm trên kia hay không, em hãy đọc kĩ hai dòng thơ cuối cùng của đoạn trích.

Quảng cáo

2. Bài tập 2, trang 92, SGK.

   Hàm ý của câu in đậm dưới đây là gì ? Vì sao em bé không nói thẳng được mà phải sử dụng hàm ý ? Việc sử dụng hàm ý có thành công không ? Vì sao ?

   Nó nhìn dáo dác một lúc rồi kêu lên :

   – Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái ! – Nó cũng lại nói trổng.

   Tôi lên tiếng mở đường cho nó :

   – Cháu phải gọi “Ba chắt nước giùm con”, phải nói như vậy.

   Nó như không để ý đến câu nói của tôi, nó lại kêu lên:

   – Cơm sôi rồi, nhão bây giờ !

   Anh Sáu vẫn ngồi im […].

(Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà)

   Bài tập này có ba yêu cầu : xác định hàm ý, lí do sử dụng hàm ý và cho biết việc sử dụng hàm ý có thành công không.

   – Em bé dùng câu in đậm để nói với ai và nhờ làm việc gì ?

   – Vì sao em bé không nói thẳng ra điều cần nói ?

   – Qua câu “Anh Sáu vẫn ngồi im.” em thấy điều em bé muốn nhờ có được thực hiện không ?

3. Bài tập 3, trang 92, SGK.

   Hãy điền vào lượt lời B trong đoạn thoại sau đây một câu có hàm ý từ chối.

   A : Mai về quê với mình đi !

   B : /…/

   A : Đành vậy.

   Bài tập này có mục đích giúp em luyện tập dùng hàm ý.

   Có thể nêu việc phải làm vào ngày mai (nên không thể đi được), ví dụ : “bận ôn thi” hay “phải đi thăm người ốm”…

   Chú ý là phải dùng câu chứa hàm ý từ chối theo yêu cầu của đề, không dùng những câu không rõ chủ định như “Để mình xem đã.”, “Mai hẵng hay.”,…

4. Bài tập 4, trang 92, SGK.

   Tìm hàm ý của Lỗ Tấn qua việc ông so sánh “hi vọng” với “con đường” trong các câu sau :

   Tôi nghĩ bụng : Đã gọi là hi vọng thì không thể nói đâu là thực, đâu là hư. Cũng giống như những con đường trên mặt đất ; kì thực trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi.

   Yêu cầu của bài tập là tìm hàm ý của Lỗ Tấn qua phép so sánh “hi vọng” với “con đường”.

   Để nhận ra hàm ý, em hãy thử diễn đạt lại câu cuối cùng bằng cách thay các từ điđường bằng những từ thích hợp.

5. Bài tập 5, trang 93, SGK.

Tìm những câu có hàm ý mời mọc hoặc từ chối trong các đoạn đối thoại giữa em bé với những người ở trên mây và sóng (trong bài thơ Mây và sóng của Ta-go). Hãy viết thêm vào mỗi đoạn một câu có hàm ý mời mọc rõ hơn.

 

   Yêu cầu của bài tập là tìm những câu có hàm ý mời mọc hoặc từ chối ở các đoạn đối thoại (trong bài thơ Mây và sóng của R. Ta-go) và viết thêm vào mỗi đoạn đối thoại một câu có hàm ý mời mọc rõ hơn.

   Muốn tìm được hàm ý thì phải dựa vào nội dung khái quát của hàm ý đã cho trong đề (mời mọc hoặc từ chối) và tìm chúng qua việc hiểu toàn bộ ý của bài thơ. Ví dụ, câu có hàm ý mời mọc là hai câu mở đầu bằng “Bọn tớ chơi…”.

   Có thể viết thêm câu có hàm ý mời mọc rõ hơn : “Đi chơi với bọn tớ thì thích lắm đấy.”.