Trang chủ Lớp 9 Ngữ văn lớp 9 Soạn bài Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới trang 26...

Soạn bài Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới trang 26 SGK Văn 9 – Ngữ văn lớp 9...

Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới – Vũ Khoan – Soạn bài Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới trang 26 SGK Văn 9. 5. Em đã được học và đọc nhiều tác phẩm văn học và những bài học lịch sử nói về các phẩm chất truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam.

1.  Thời điểm của tác giả viết này là vào Tết năm Tân Tị 2001, năm mở đầu của thế kỉ XXI và thiên niên kỉ thứ ba, tính từ đầu công nguyên theo dương lịch. Đây là thời điểm rất quan trọng, thời điểm chuyển giao giữa hai thế kĩ, hai thiên niên kỉ. Đây cũng chính là thời điểm ugười ta hay muốn nhìn lại, kiểm điểm lại mình trên chặng đường dài đã qua và chuẩn bị hành trang đi tiếp chặng đường mới. Riêng đôi với đất nưổc ta. dân tộc ta, đây chính là thời điểm công cuộc đổi mới bắt đầu từ cuối thế kỉ trước đã thu được những thành quả nhất định, đang bước sang thẻ ki mới với những mục tiêu phấn đấu vô cùng quan trọng. Đó là thời điểm giải quyết nhiệm vụ cơ bản để trở thành một nước cồng nghiệp vào nám 2020. Chính vì thế, bài Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới này có ý nghĩa rất kịp thời, đúng lúc.

Bài viết đã nêu vấn đề để chuẩn bị hành trang vào thê ki mới, thế hệ trẻ Việt Nam chúng ta cần nhận rõ cái mạnh và cái yêu cùa con người Việt Nam, rèn cho mình những đức tính và thói quen tốt Ngay trong câu đầu, tác giả nêu ra luận điểm cơ bản này của bài viết.

Cũng phải thấy vấn đề tác giả nêu ra không chi có ý nghĩa ứ sự nóng bỏng trong thời điểm chuyển giao thế kỉ, mả nó còn có ý nghĩa lâu dài đôi với cả quá trình đi lên của đất nước ta. Bởi vì có nhận thức rõ mặt mạnh cũng như mật yếu của mình, khắc phục cái yếu đi, phát huy cái mạnh lẽn, chính là điều kiện quan trọng cần thiết để phát triển và không bị :ut hậu, đối với mổi con người chúng ta hôm nay. Điều đó lại càng cáp thiết hơn nữa khi chúng ta đang thực sự đi vào công cuộc xây dưng, phát triển đất nước trong xu thế hội nhập, trong nền kinh tế có xu hưáng :can cầu hóa như bây giờ.

2. Lập dàn ý theo trình tự lập luận của tác giả

a) Trong hành trang vào thế kỉ mới, sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhât.

Đây là luận cứ mở ra hướng lập luận cho toàn bài văn, là luận cứ quan trọng mở đầu cho cả hệ thống luận cứ cúa bài văn.

Luận cứ này được xác minh bằng các lí lẽ:

–       Từ cổ chí kim bao giờ con người cũng là động lực phát triển của lịch sử;

–       Trong thời kì kinh tế tri thức phát triển thì vai trò của con người lại càng nổi trội.

b)  Bối cảnh thế giới hiện nay và những nhiệm vụ nặng nề của đất nước. Tác giả đã triển khai luận cứ này bằng hai ý:

–       Bối cảnh hiện nay là một thế giới mà khoa học công nghệ phát triển như huyền thoại, sự giao thoa, hội nhập ngày càng sâu rộng giữa các nền kinh tế;

–       Nước ta phải đồng thời giải quyết ba nhiệm vụ: thoát khỏi tình trạng nghìn năm lạc hậu của nền kinh tế nông nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời phải tiếp cận ngay với nền kinh tế tri thức.

Quảng cáo

c)  Những điểm mạnh, điểm yếu của con người Việt Nam được nhận rõ khi bước vào nền kinh tế mới trong thế kỉ mới.

Tác giả đã triển khai cụ thể và phân tích rất thấu đáo luận cứ này vì đây là một luận cứ chũ yếu.

d)  Kết luận: Bước vào thế kỉ mới, mỗi người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ cần phải phát huy những điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu, rèn cho mình những thói quen tôt ngay từ những việc nhỏ để đáp ứng nhiệm vụ đưa đất nước đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Nhìn chung, hệ thống luận cứ của tác giả có tính chặt chẽ và tính định hướng rất rõ nét.

3. Trong bài này, tác giả cho rằng: Trong những hành trang ấy, có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất. Điều này rất xác đáng bởi vì:

–       Từ xưa đến nay, con người bao giờ cũng là động lực phát triển của lịch sử.

–       Nhất là trong thời kỉ nền kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ như hiện nay con người lại càng có vai trò nổi bật.

4. Tác giả đã nêu ra và phân tích những điểm mạnh, điểm yếu trong tính cách thói quen của con người Việt Nam là:

–       Thông minh, nhạy bén với cái mới nhưng thiếu kiến thức cơ bản, kém khả năng thực hành;

–        Cần cù sáng tạo nhưng thiếu đức tính tỉ mỉ, không coi trọng nghiêm ngặt quy trình công nghệ, chưa quen với cường độ khẩn trương;

–        Có tinh thần đoàn kêt, nhât là trong công cuộc chiến đấu chống ngoại xâm nhưng lại thường đô kị nhau trong làm ăn và trong cuộc sông hàng ngày;

–        Bản tính thích ứng nhanh, nhưng lại có nhiều hạn chế trong thói quen nêp nghĩ, kì thị trong kinh doanh, quen với bao cấp, thói sùng ngoại hoặc bài ngoại quá mức, thói “khôn vặt”, ít giữ chữ “tín”.

Không liệt kê giản đơn, tác giả mỗi khi nêu một ưu điểm lại đề cập một nhược điểm. Đặc biệt là những ưu điểm, khuyết điểm đó luôn được đặt trong yêu cầu xây dựng và phát triển đâ’t nước hiện nay.

5. Em đã được học và đọc nhiều tác phẩm văn học và những bài học lịch sử nói về các phấm chất truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam. Nói chung là chỉ thiên về khẳng định những cái hay, cái tốt, cái mạnh, những yếu tố tích cực đáng biểu dương học tập. Bài viết này trái lại, đã mang đến cho người đọc ít nhiều yếu tố bất ngờ. Tác giả không chỉ có ca ngợi, cũng không chỉ toàn phê phán một cách cực đoan mà đã nhìn nhận vân đề một cách khách quan, tôn trọng sự thực nghĩa là vừa khẳng định và trân trọng những phẩm chất tốt đẹp tích cực ‘đổng thời cũng thẳng thắn chỉ ra những mặt yếu kém tiêu cực, không bị rơi vào sự tự C30 quá mức hay tự ti, miệt thị dân tộc.

6. Trong văn bản này, tác giả sử dụng khá nhiều thành ngữ, tục ngữ “nước đến chân mới nhảy”, “trâu buộc ghét trâu ăn”, “liệu cơm gấp mắm”, “bóc ngắn, cắn dài”.. Điều này làm cho bài văn thêm phần cụ thể, sinh động và giàu ý nghĩa.

Quảng cáo